Một tấm kính hoặc acrylic có thể được sản xuất đúng kích thước, bề mặt đẹp và không có khuyết tật nhìn thấy nhưng hồ vẫn rò sau khi cấp nước.

Điểm nước xuất hiện cũng chưa chắc là nơi hệ thống mất kín. Nước có thể đi từ một cạnh đứng hoặc phía sau lớp hoàn thiện rồi thoát ra ở chân tấm. Trong trường hợp khác, chất trám vẫn còn bám nhưng khe bị ép do khung bê tông chuyển vị hoặc khoảng giãn nở của tấm không còn đủ.

Vì vậy, ô nhìn trong suốt không thể được xem như một tấm vật liệu gắn vào lỗ chờ. Đây là một hệ hoàn chỉnh gồm tấm, khung chịu lực, mặt tựa, gối phân bố tải, khoảng chuyển vị, lớp kín nước, chống thấm chuyển tiếp và lớp hoàn thiện.

Kết luận cần chốt ngay từ đầu: cấu tạo tấm và khe liên kết phải được phối hợp với hồ sơ kết cấu trước khi phát hành bản vẽ cốt thép. Đợi đến khi bê tông đã đổ rồi mới “làm tấm vừa với ô” sẽ chuyển toàn bộ sai lệch của phần thô sang gối đỡ và khe.

Bài viết này không phải bảng chọn chiều dày kính hoặc acrylic. Chiều dày, cấu tạo tấm, kích thước khe và vật liệu liên kết phải được tính cho đúng công trình và được nhà cung cấp cùng đơn vị thiết kế xác nhận.

Hồ bơi kính và hồ bơi acrylic khác nhau ở đâu?

Kính và acrylic đều có thể tạo thành thành nhìn, đáy nhìn xuyên tầng hoặc chi tiết trong suốt tại hồ vô cực. Tuy nhiên, hai vật liệu không làm việc giống nhau và không thể dùng chung một chi tiết liên kết chỉ vì kích thước ô nhìn tương tự.

Hồ bơi kính

“Hồ bơi kính” là cách gọi theo hình thức kiến trúc. Hồ sơ kỹ thuật không nên chỉ ghi “kính cường lực” mà phải xác định đầy đủ cấu tạo tấm.

Các dữ liệu cần có gồm số lớp, chiều dày từng lớp, phương pháp xử lý, vật liệu liên kết giữa các lớp, cấu tạo mép, hướng lắp, sơ đồ tựa và trạng thái của hệ khi một lớp bị hư hỏng.

Cạnh và góc kính phải được bảo vệ trong vận chuyển, nâng hạ và lắp đặt. Tấm không được đặt trực tiếp lên bê tông thô hoặc một điểm kê nhỏ chưa được thiết kế để phân bố tải.

Hồ bơi acrylic

Tấm acrylic dùng trong hồ bơi phải được nhà sản xuất xác nhận cho điều kiện ngập nước, tải trọng, kích thước và nhiệt độ của dự án. Không nên đánh đồng với tấm nhựa trong dùng cho quảng cáo hoặc trang trí nội thất.

Thiết kế cần kiểm tra chuyển vị tức thời, biến dạng theo thời gian, ảnh hưởng của nhiệt độ, chất lượng quang học và hướng cho phép tấm dịch chuyển. Khe của một ô kính không được sao chép nguyên sang acrylic khi chưa đối chiếu dữ liệu của đúng loại tấm.

So sánh xu hướng làm việc

Tiêu chíKínhAcrylic
Độ cứngThường có chuyển vị nhỏ hơn trong cấu hình tương đươngLinh hoạt hơn; độ võng cần được kiểm tra
Chuyển động do nhiệtVẫn cần khoảng hở theo thiết kếKhe phải tính theo đúng loại tấm và dải nhiệt
Bề mặtThường chống xước tốt hơnNhạy với cát và dụng cụ vệ sinh không phù hợp
Mép tấmCần bảo vệ khỏi sứt và tải tập trungCũng cần gối và lớp phân bố tải
Tạo hìnhHạn chế hơn đối với chi tiết congThuận lợi hơn khi cần ô cong hoặc tấm lớn
Bảo trìKhó xử lý vết xước sâu tại chỗMột số hư hỏng bề mặt có thể xử lý theo quy trình chuyên dụng

Bảng chỉ mô tả xu hướng. Quyết định cuối cùng phải dựa trên kích thước ô, chiều cao nước, sơ đồ tựa, nhiệt độ, điều kiện vận chuyển, yêu cầu quang học và phương án bảo trì.

Không chọn chiều dày tấm chỉ theo độ sâu nước

Áp lực nước tăng theo chiều sâu. Vùng chân tấm chịu áp lực lớn hơn vùng gần mặt nước, vì vậy không thể giả định toàn bộ tấm chịu một áp lực phân bố đều.

Tuy nhiên, chiều sâu nước vẫn chưa đủ để chọn tấm. Hai ô có cùng mực nước nhưng khác chiều rộng hoặc khác số cạnh tựa sẽ có trạng thái làm việc khác nhau. Tấm cong, tấm chỉ tựa ba cạnh, đáy nhìn xuyên tầng và tấm công xôn cũng không thể dùng chung một bảng chọn.

Ngoài áp lực nước, hồ sơ tính toán còn phải xét:

  • Trọng lượng bản thân tấm.
  • Cách tấm được giữ và truyền tải về khung.
  • Chuyển vị của bê tông hoặc khung kim loại.
  • Nhiệt độ và chu kỳ nóng–lạnh.
  • Trạng thái hồ đầy và hồ cạn.
  • Tải trong vận chuyển và nâng hạ.
  • Va chạm hoặc tác động trong điều kiện sử dụng.
  • Chênh áp bất thường giữa hai phía nếu có.

Các bảng truyền miệng kiểu “hồ sâu 1,5 m dùng kính dày bao nhiêu” không đủ cơ sở khi chưa biết chiều rộng, cấu tạo vật liệu và sơ đồ tựa.

Dữ liệu phải khóa trước khi đặt sản xuất tấm

Nhà cung cấp tấm không chỉ cần kích thước rộng × cao. Họ phải nhận đủ dữ liệu về ô chờ, kết cấu, môi trường và đường lắp đặt.

Nhóm dữ liệuNội dung phải xác định
Ô nhìnKích thước bê tông thô, kích thước sau hoàn thiện, cao độ cạnh, chiều sâu rãnh, số cạnh tựa, bán kính cong nếu có
Mặt nướcCao độ vận hành, cao độ cao nhất, trạng thái tràn và xả sự cố
Khung đỡVật liệu khung, sơ đồ chịu lực, chuyển vị dự kiến, mạch ngừng, khe kết cấu và tuổi bê tông khi lắp
Môi trườngTrong nhà hay ngoài trời, nắng trực tiếp, nhiệt độ nước, độ mặn, hệ khử trùng và hóa chất vệ sinh
Vận chuyểnCửa ra vào, bán kính quay, tải sàn, vị trí cẩu, tầm với, điểm tập kết và không gian dựng tấm
Thay thếHướng tháo, nẹp có thể tháo, đường đưa thiết bị nâng trở lại và các hạng mục phải phục hồi

Cần phân biệt rõ kích thước ô bê tông với phần nhìn thấy sau khi đã chống thấm, ốp mosaic, lắp nẹp và hoàn thiện sàn.

Một tấm đúng thiết kế nhưng không thể đưa qua cửa, không quay được vào vị trí hoặc không có đường tháo khi cần thay thế vẫn là lỗi phối hợp thiết kế.

Khung kết cấu phải kiểm soát cả cường độ và chuyển vị

Khung quanh ô nhìn tiếp nhận tải từ tấm và truyền về thành hồ, bản đáy, dầm, cột hoặc hệ kết cấu chính. Đây không phải một nẹp trang trí.

Khung có thể chưa mất khả năng chịu lực nhưng vẫn không phù hợp nếu độ võng, xoắn hoặc lún chênh làm thay đổi khe. Khi đó, tấm có thể bị ép tại một cạnh, gối chịu tải không đều hoặc chất trám bị kéo vượt phạm vi làm việc.

Đơn vị thiết kế tấm cần nhận được:

  • Sơ đồ chịu lực của khung.
  • Chuyển vị ngắn hạn và dài hạn dự kiến.
  • Vị trí mạch ngừng và khe kết cấu.
  • Trạng thái hồ đầy và hồ cạn.
  • Thời điểm dự kiến lắp tấm.
  • Các lỗ xuyên hoặc cấu kiện nằm gần ô nhìn.

Ô nhìn cũng làm gián đoạn đường truyền lực của thành bê tông. Cốt thép quanh ô, chi tiết tại góc và quan hệ với rãnh tựa phải do kỹ sư kết cấu thể hiện trong hồ sơ. Không tự ý cắt thép hoặc đục sâu thêm rãnh để làm tấm vừa với ô.

Đo ô chờ sau khi tháo cốp pha

Không sử dụng kích thước danh nghĩa trên bản vẽ kiến trúc để đặt tấm mà không đo lại hiện trường.

Biên bản đo cần có:

  • Chiều rộng tại phía trên, giữa và dưới.
  • Chiều cao tại bên trái, giữa và bên phải.
  • Hai đường chéo.
  • Độ phẳng và độ vuông.
  • Cao độ mặt tựa.
  • Chiều sâu rãnh.
  • Điểm lồi, vùng rỗ và vết nứt tại góc.
  • Vị trí profile chôn sẵn nếu có.

Không dùng lực cẩu, nêm kim loại hoặc một lớp vữa dày để ép tấm vào ô sai hình học. Sai lệch phải được kỹ sư và nhà cung cấp tấm đánh giá trước khi sửa.

Hệ liên kết phải phân tách ba chức năng

Toàn bộ hệ liên kết giữa tấm và khung phải giải quyết đồng thời ba việc: truyền tải, cho phép chuyển vị và giữ kín nước. Ba chức năng này không nên bị giao mặc định cho một đường keo.

Vùng truyền tải

Tải từ tấm có thể đi qua gối, mặt tựa, profile, khung chặn hoặc chi tiết giữ tấm tùy hệ thiết kế.

Vùng chịu lực phải:

  • Phân bố tải, không tạo điểm kê nhỏ.
  • Không để mép tấm tiếp xúc với bê tông thô hoặc cạnh kim loại sắc.
  • Duy trì đặc tính khi ngâm nước và chịu tải lâu dài.
  • Tương thích với tấm, khung và hóa chất trong hồ.

Chất trám đàn hồi không mặc định là bộ phận kê hoặc chịu toàn bộ trọng lượng của tấm.

Vùng cho phép chuyển vị

Khoảng hở phải tiếp nhận chênh lệch chuyển động giữa tấm và kết cấu. Chuyển động có thể đến từ áp lực nước, co ngót bê tông, nhiệt độ, biến dạng dài hạn, lún hoặc chu kỳ đầy–cạn.

Kích thước khe, vật liệu chèn, số mặt bám, lớp lót tăng bám dính và hình học đường trám phải theo đúng tài liệu của hệ vật liệu được chọn.

Vữa, keo dán gạch, đá hoặc mosaic không được tràn vào và khóa vùng cần biến dạng.

Vùng kín nước

Vật liệu được mô tả là “chống nước” hoặc “dùng ngoài trời” chưa đủ để kết luận phù hợp với hồ bơi.

Hệ kín nước cần được xác nhận về:

  • Khả năng ngâm nước dài hạn.
  • Độ bám với đúng loại kính hoặc acrylic.
  • Độ bám với bê tông, kim loại hoặc profile.
  • Khả năng chịu Clo, độ mặn và nhiệt độ của dự án.
  • Phạm vi chuyển vị.
  • Điều kiện bề mặt và lớp lót.
  • Thời gian đóng rắn trước khi ngập nước.

Lớp chống thấm của bê tông cũng phải được nối tới hệ khe theo chi tiết được duyệt. Không nên dừng chống thấm trước ô rồi giao toàn bộ nhiệm vụ kín nước cho một đường trám nhìn thấy ở mặt ngoài.

Lớp hoàn thiện cuối cùng phải tránh tỳ lên mép tấm, che mất vị trí kiểm tra, giữ nước phía sau nẹp hoặc cản phương án tháo tấm.

Lưu ý riêng khi thi công hồ bơi kính

Hồ sơ kính phải thể hiện đầy đủ cấu tạo lớp, chiều dày, xử lý nhiệt, lớp liên kết, hoàn thiện cạnh, sơ đồ giữ tấm, vị trí gối, khoảng hở và hướng lắp.

Trong vận chuyển và lắp đặt:

  • Không đặt cạnh kính lên bê tông.
  • Không kéo tấm trên nền.
  • Không để góc tấm va vào khung.
  • Không tỳ dụng cụ kim loại vào mép.
  • Không dùng nêm cứng để ép tấm.
  • Không tháo bảo vệ cạnh sớm hơn quy trình cho phép.

Việc cắt, khoan, mài hoặc sửa mép tại công trường chỉ được thực hiện khi nhà sản xuất có quy trình cho phép. Nếu tấm không vừa ô, trước tiên phải kiểm tra lại ô chờ, dung sai và hồ sơ thiết kế.

Khi giao hàng cần ghi nhận mã tấm, kích thước, hướng lắp, cấu tạo, vết xước, sứt cạnh, tình trạng lớp bảo vệ và chứng từ xuất xưởng.

Lưu ý riêng khi thi công hồ bơi acrylic

Với acrylic, khoảng chuyển vị phải được tính từ dữ liệu của đúng loại tấm và dải nhiệt độ thực tế. Không lắp tấm vừa khít rồi giả định chất trám sẽ hấp thụ mọi thay đổi kích thước.

Thiết kế cũng phải kiểm tra:

  • Độ võng ban đầu.
  • Biến dạng theo thời gian.
  • Ảnh hưởng của nhiệt độ.
  • Chuyển vị của khung.
  • Tác động của chuyển vị lên khe.
  • Biến dạng quang học.
  • Trạng thái của mối nối nếu sử dụng nhiều tấm.

Trong giai đoạn hoàn thiện, acrylic dễ bị xước bởi cát, vữa, khăn bẩn và dụng cụ kim loại. Lớp bảo vệ nên được giữ lại đến sát thời điểm vệ sinh cuối, chỉ mở phần thực sự cần cho công tác liên kết.

Dung môi, chất tẩy keo, primer, chất trám và hóa chất đánh bóng phải được nhà cung cấp xác nhận tương thích. Không thử hóa chất trực tiếp trên bề mặt chính của tấm.

Mối nối giữa các tấm acrylic phải do đơn vị có quy trình chuyên dụng thực hiện. Không coi đây là một đường silicone trang trí giữa hai tấm nhựa.

Bản vẽ triển khai thi công phải hoàn thành trước khi đổ bê tông

Bản vẽ triển khai thi công — thường gọi là Shop Drawing — phải kết hợp kết cấu, tấm, gối, khe, chống thấm và hoàn thiện trên cùng một mặt cắt.

Tối thiểu bản vẽ cần thể hiện:

  • Kích thước tấm và kích thước ô bê tông.
  • Kích thước sau hoàn thiện.
  • Chiều sâu rãnh và mặt tựa.
  • Vị trí, kích thước và vật liệu gối.
  • Khe ở đáy, hai cạnh và phía trên.
  • Profile, gioăng hoặc chi tiết chặn.
  • Vật liệu chèn và vùng trám.
  • Điểm kết thúc hoặc chuyển tiếp của lớp chống thấm.
  • Lớp mosaic, đá hoặc nẹp hoàn thiện.
  • Cốt thép quanh ô.
  • Hướng lắp và hướng tháo tấm.

Bản vẽ phải trả lời được tải của tấm truyền về đâu, cạnh nào giữ tấm, cạnh nào cho phép chuyển vị, vùng nào không được lấp vữa và bộ phận nào có thể tháo khi bảo trì.

Dung sai cũng phải được thống nhất giữa đơn vị kết cấu, nhà cung cấp tấm, đội chống thấm và đội hoàn thiện trước ngày giao tấm.

Trình tự thi công hồ bơi kính hoặc acrylic

Bước 1: Khóa phương án tấm

Xác định vật liệu, kích thước, sơ đồ tựa, cao độ nước, chuyển vị dự kiến, chi tiết khe, nhà cung cấp, đường lắp và phương án thay thế.

Bước 2: Thi công khung và ô chờ

Kiểm tra cốt thép quanh ô, rãnh tựa, chi tiết chôn sẵn, mạch ngừng, băng cản nước, cốp pha và khả năng đầm bê tông tại góc.

Bước 3: Đo hoàn công phần thô

Đo kích thước tại nhiều vị trí, hai đường chéo, độ phẳng, độ vuông, cao độ và chiều sâu rãnh. Ghi nhận vết nứt, rỗ hoặc điểm lồi.

Bước 4: Sửa và chuẩn bị bề mặt

Biện pháp sửa phải phù hợp với loại sai lệch. Không dùng một lớp vữa dày để che toàn bộ lỗi hình học khi chưa kiểm tra khả năng chịu tải và độ bám.

Bước 5: Kiểm tra tấm khi giao

Đối chiếu mã, kích thước, khối lượng, hướng lắp, tình trạng cạnh, khuyết tật bề mặt, chứng từ và điều kiện lưu kho.

Bước 6: Chuẩn bị nâng hạ

Phương án phải xác định thiết bị nâng, tải cho phép, khung gá hoặc giác hút, dầm cân bằng, người chỉ huy, vùng cấm, điều kiện gió và cách dừng khẩn cấp.

Bước 7: Đặt và định vị tấm

Tấm phải nằm trên đúng gối, đúng hướng và còn đủ khe theo bản vẽ. Không dùng lực cẩu để ép mép tấm vào khung.

Sau khi đặt cần đo lại vị trí, cao độ và khe trước khi đóng hệ liên kết.

Bước 8: Hoàn thiện khe, chống thấm và chờ đóng rắn

Bề mặt, độ ẩm, lớp lót, vật liệu chèn, hình học đường trám, nhiệt độ thi công và thời gian đóng rắn phải theo tài liệu của hệ vật liệu.

Chỉ thi công mosaic, đá và nẹp khi đã xác nhận lớp hoàn thiện không khóa vùng chuyển vị.

Thử kín nước và nghiệm thu

Thử kín nước của toàn hồ phải theo hồ sơ được phê duyệt. Bài T-C1.6 chỉ bổ sung các điểm cần quan sát riêng quanh tấm; không thay thế quy trình thử kín nước của công trình.

Nếu phương án thử quy định cấp nước theo giai đoạn, mỗi mức nước cần ghi nhận:

  • Cao độ và thời gian bắt đầu.
  • Trạng thái chân tấm và hai cạnh đứng.
  • Độ võng hoặc chuyển vị tại điểm đo.
  • Thay đổi chiều rộng khe.
  • Vết nứt mới quanh góc.
  • Biến dạng của chất trám hoặc nẹp.
  • Dấu nước tại mặt ngoài và kết cấu phía dưới.

Phải dừng tăng mực nước nếu xuất hiện tiếng bất thường, vết nứt phát triển, mép tấm bị ép hoặc khe thay đổi nhanh ngoài dự kiến.

Checklist nghiệm thu

NhómNội dung kiểm tra
Hồ sơTính toán tấm, tính toán khung, bản vẽ triển khai và biện pháp nâng hạ
Ô chờKích thước, đường chéo, độ phẳng, cao độ và chiều sâu rãnh
Kết cấuVết nứt, mạch ngừng, chi tiết chôn sẵn và hồ sơ cốt thép quanh ô
TấmĐúng mã, kích thước, hướng lắp và không hư cạnh
GốiĐúng vị trí, đủ diện tích và không tạo tải điểm
KheĐúng hình học, vật liệu và không bị lớp hoàn thiện khóa
Chống thấmChuyển tiếp liên tục theo chi tiết được duyệt
Thử nướcCó biên bản mực nước, chuyển vị, hình ảnh và điều kiện nghiệm thu
Bàn giaoHồ sơ hoàn công, vật liệu sử dụng, hướng dẫn vệ sinh và phương án thay tấm

Không nên nghiệm thu chỉ bằng việc quan sát hồ có hụt nước hay không. Một khe đang bị nén, một gối chịu tải không đều hoặc một vết nứt đang mở vẫn là dấu hiệu phải đánh giá.

Những lỗi thường gặp

Đổ bê tông trước khi khóa nhà cung cấp tấm

Hậu quả thường là rãnh quá nông, khe không đủ, gối không đúng vị trí, cốt thép xung đột hoặc không còn đường lắp.

Chọn chiều dày chỉ theo độ sâu

Cách chọn này bỏ qua chiều rộng, số cạnh tựa, cấu tạo vật liệu, nhiệt độ và chuyển vị của khung.

Đặt tấm trực tiếp lên bê tông

Điểm lồi hoặc hạt cốt liệu có thể tạo tải tập trung tại mép.

Dùng chất trám thay cho toàn bộ hệ liên kết

Một đường trám không nên đồng thời bị giao nhiệm vụ kê tấm, định vị, chịu tải, chống thấm và hoàn thiện nếu hệ chưa được thiết kế theo cách đó.

Không chừa chuyển vị cho acrylic

Tấm được lắp vừa khít tại một nhiệt độ có thể ép vào khung khi điều kiện thay đổi.

Chống thấm và khe được thi công tách rời

Lớp ngoài có thể nhìn kín nhưng nước vẫn đi phía sau và thoát ra ở vị trí thấp hơn.

Lớp hoàn thiện khóa khe

Vữa, đá hoặc keo dán mosaic tràn vào vùng chuyển vị làm tải truyền trực tiếp vào mép tấm.

Cấp nước trước khi hệ liên kết đủ điều kiện

Bề mặt khô khi chạm tay không chứng minh phần bên trong đã đóng rắn và đủ điều kiện ngập nước.

Khi xuất hiện rò, nứt hoặc hư hỏng bề mặt

Nước xuất hiện ở chân tấm chưa chứng minh điểm mất kín nằm tại chân. Trước khi bơm thêm keo, cần đối chiếu đường nước, vết nứt, tình trạng khung, khe và lớp chống thấm.

Nếu kính bị nứt, sứt cạnh hoặc phát ra tiếng bất thường, phải dừng khai thác khu vực và yêu cầu đơn vị chuyên môn đánh giá. Không trám che vết nứt rồi tiếp tục sử dụng.

Nếu acrylic xuất hiện rạn nhỏ, cần kiểm tra hóa chất vệ sinh, dung môi, nhiệt độ, tải cục bộ, tình trạng khóa chuyển vị và vùng mối nối.

Khi không thể xác định đường nước bằng quan sát, nên thực hiện quy trình dò rò rỉ phù hợp trước khi đục lớp hoàn thiện hoặc tháo tấm.

Bàn giao và bảo trì

Hồ sơ bàn giao nên gồm bản vẽ hoàn công, tính toán tấm, chi tiết khe, mã vật liệu, ảnh trước khi che nẹp, biên bản thử nước và hướng dẫn vệ sinh.

Trong vận hành cần theo dõi:

  • Bong hoặc co rút tại mép khe.
  • Nước rỉ, cặn hoặc biến màu.
  • Nẹp lỏng.
  • Ăn mòn chi tiết kim loại.
  • Vết nứt quanh góc.
  • Thay đổi chiều rộng khe.
  • Vết xước hoặc rạn trên tấm.

Với acrylic, cần loại bỏ cát trước khi lau, không chà khô và không dùng dung môi chưa được xác nhận. Với kính, dụng cụ vệ sinh không được va vào cạnh hoặc góc.

Việc xả cạn cũng làm thay đổi tải lên tấm và khung. Trình tự hạ nước để sửa khe hoặc thay tấm phải theo hồ sơ kỹ thuật của công trình.

Câu hỏi thường gặp

Hồ bơi nên dùng kính hay acrylic?

Lựa chọn phụ thuộc kích thước ô, chiều cao nước, sơ đồ tựa, nhiệt độ, yêu cầu quang học, điều kiện vận chuyển và khả năng bảo trì. Không có một vật liệu phù hợp cho mọi công trình.

Kính hoặc acrylic phải dày bao nhiêu?

Chiều dày phải được tính theo kích thước tấm, cao độ nước, cấu tạo vật liệu, số cạnh tựa, tải sử dụng và chuyển vị khung. Không chọn chỉ theo độ sâu hồ.

Có thể trám trực tiếp giữa tấm và bê tông không?

Chỉ được thực hiện khi đây là chi tiết thuộc một hệ đã được thiết kế và xác nhận. Hệ liên kết vẫn phải giải quyết truyền tải, chuyển vị và kín nước.

Thử nước trong bao lâu?

Thời gian và các mức nước phải theo hồ sơ thử kín được phê duyệt. Ngoài rò nước còn phải theo dõi chuyển vị tấm, khung và khe.

Acrylic bị xước có sửa được không?

Một số hư hỏng bề mặt có thể xử lý bằng quy trình chuyên dụng. Khả năng phục hồi phụ thuộc độ sâu, vị trí và loại tấm.

Khóa Shop Drawing trước khi đặt sản xuất tấm

Kính hoặc acrylic không nên được xem là hạng mục hoàn thiện đặt mua sau cùng.

Trước khi phát hành bản vẽ cốt thép quanh ô nhìn, hồ sơ phải xác nhận cấu tạo tấm, sơ đồ tựa, vùng truyền tải, chuyển vị dự kiến, gối, profile, khe, chống thấm, hướng lắp và phương án thay thế.

Sau khi tháo cốp pha, ô chờ phải được đo lại tại nhiều cao độ và hai đường chéo. Không đưa tấm tới công trường chỉ dựa trên kích thước danh nghĩa của bản vẽ kiến trúc.

Một sai lệch còn có thể xử lý trước khi chống thấm. Khi tấm đã đặt, khe đã đóng và lớp đá đã che kín, cùng sai lệch đó có thể trở thành tải điểm lên cạnh, khe mất khoảng chuyển vị hoặc đường rò không còn khả năng tiếp cận.

Chỉ tiến hành lắp đặt khi kết cấu, tấm, gối đỡ, khe liên kết, chống thấm và lớp hoàn thiện đã được thể hiện và xác nhận trên cùng một bản vẽ triển khai thi công.