Phiếu giao bê tông ghi đúng mác. Mẫu nén sau đó đạt cường độ thiết kế. Tuy nhiên, khi tháo cốp pha, chân thành hồ vẫn xuất hiện rỗ sâu, quanh Skimmer có hốc và một đoạn băng cản nước không được bê tông bao kín.

Khi cấp nước thử, mặt ngoài thành bắt đầu xuất hiện vệt ẩm.

Tình huống này cho thấy một điểm thường bị bỏ qua tại công trường: bê tông đạt cường độ nén chưa đồng nghĩa kết cấu hồ bơi đã đủ khả năng giữ nước.

Mác hoặc cấp độ bền chỉ phản ánh một phần chất lượng. Độ kín và độ bền thực tế còn phụ thuộc khả năng bê tông đi qua cốt thép, vị trí cốt thép, lớp bảo vệ, mạch ngừng, băng cản nước, thiết bị âm thành, cốp pha, trình tự đổ, đầm và bảo dưỡng.

Hồ bơi bê tông cốt thép vì vậy phải được xem là một kết cấu chịu lực có yêu cầu giữ nước, không chỉ là một khối bê tông có cường độ cao.

Mác bê tông có quyết định hồ bơi giữ nước tốt hay không?

Không. Mác bê tông phản ánh chủ yếu khả năng chịu nén của mẫu được chế tạo, bảo dưỡng và thử theo điều kiện quy định. Nó không tự chứng minh bê tông đã điền đầy quanh thép, Waterstop không bị gập, mạch ngừng được xử lý đúng hoặc kết cấu không nứt do co ngót và chuyển vị.

Khả năng giữ nước là kết quả của cả thiết kế, vật liệu và thi công. Tăng mác không thể thay thế cốt thép, lớp bảo vệ, cấu tạo khe, đầm bê tông, bảo dưỡng hoặc xử lý thiết bị xuyên thành.

Kết cấu hồ bơi khác kết cấu bê tông thông thường ở đâu?

Bản đáy và thành hồ phải đồng thời đáp ứng hai nhóm yêu cầu:

  1. Chịu tải trọng và duy trì hình học của hồ.
  2. Hạn chế nứt, thấm và suy giảm độ bền trong môi trường sử dụng.

Một thành hồ có thể chưa mất khả năng chịu lực nhưng vẫn không đạt yêu cầu sử dụng nếu vết nứt cho phép nước đi qua. Vì vậy, kiểm soát trạng thái sử dụng — gồm chuyển vị, độ mở vết nứt, co ngót và độ kín — có thể chi phối thiết kế không kém kiểm tra cường độ cuối cùng.

Các tài liệu ACI về kết cấu bê tông chứa hoặc xử lý nước cũng xem tải trọng đặc thù, độ bền, cấu tạo khe và yêu cầu sử dụng là những nội dung cần kiểm soát riêng. Tuy nhiên, ACI 350 không mặc định là tiêu chuẩn bắt buộc cho mọi hồ bơi; tiêu chuẩn áp dụng phải được kỹ sư xác định trong hồ sơ của từng dự án.

Hồ phải làm việc trong nhiều trạng thái tải trọng

Khi hồ đầy, kết cấu chịu trọng lượng bản thân, khối lượng nước, áp lực nước lên thành, tải người sử dụng và tải từ sàn quanh hồ, mương tràn hoặc các cấu kiện liên kết.

Khi hồ cạn, áp lực đất và nước ngầm bên ngoài có thể trở thành trạng thái bất lợi. Với hồ âm đất, cần kiểm tra lực đẩy nổi dưới đáy. Với hồ sân thượng, toàn bộ tải phải được truyền an toàn qua sàn, dầm, cột và móng của công trình.

Nội lực trong thành và đáy cũng có thể thay đổi giữa trạng thái hồ đầy và hồ cạn. Đây là lý do không được tự ý bỏ một lớp thép chỉ vì một mặt thành được đất đỡ hoặc vì hồ có kích thước nhỏ.

Lỗ xuyên và thiết bị âm thành làm kết cấu phức tạp hơn

Thành và đáy hồ thường có Skimmer, hộp thu đáy, đầu trả nước, đèn âm nước, ống hút vệ sinh, ống tràn, đường ống bể cân bằng, hốc massage hoặc khung kính/Acrylic.

Mỗi lỗ mở làm gián đoạn tiết diện và ảnh hưởng đồng thời đến:

  • Đường truyền lực.
  • Bố trí và neo cốt thép.
  • Khả năng đưa bê tông vào khu vực hẹp.
  • Vị trí đặt vòi đầm.
  • Lớp bê tông bao quanh thiết bị.
  • Cấu tạo chống thấm tại cổ ống.

Một vùng rỗ nhỏ trong tường khô có thể chỉ là lỗi bề mặt. Trong thành hồ, hốc rỗ nối với cổ ống, mạch ngừng hoặc Waterstop có thể hình thành đường thấm liên tục.

Mác và cấp độ bền bê tông phản ánh điều gì?

Ngoài công trường, “mác bê tông” thường được dùng để nói về cường độ chịu nén. Một số hồ sơ sử dụng ký hiệu cấp độ bền theo tiêu chuẩn áp dụng.

Dù hồ sơ dùng cách ký hiệu nào, đội thi công phải đọc đúng yêu cầu đã được thiết kế và phê duyệt. Không nên tự quy đổi giữa các hệ ký hiệu bằng bảng truyền miệng hoặc thay một cấp phối khác chỉ vì cho rằng chúng “tương đương”.

Kết quả mẫu nén chủ yếu cho biết mẫu thử đạt khả năng chịu nén ở tuổi thử và điều kiện quy định. Kết quả này không tự phản ánh:

  • Bê tông có điền đầy sau Skimmer hay không.
  • Cốt liệu có bị kẹt giữa các lớp thép hay không.
  • Băng cản nước có được bao kín hai phía hay không.
  • Một khu vực có bị mất vữa qua khe cốp pha hay không.
  • Thiết bị chờ có bị dịch chuyển trong lúc đổ hay không.
  • Kết cấu có phát sinh vết nứt do co ngót, nhiệt độ hoặc lún nền hay không.

Vì vậy, mẫu nén đạt không thể thay thế kiểm tra trực tiếp kết cấu sau tháo cốp pha.

Không có một mác bê tông dùng chung cho mọi hồ bơi

Việc lựa chọn bê tông phụ thuộc kích thước và chiều sâu hồ, chiều dày kết cấu, sơ đồ chịu lực, nền móng, nước ngầm, mật độ cốt thép, số lượng thiết bị âm thành, môi trường sử dụng và tiêu chuẩn của dự án.

Không nên áp dụng các quy tắc như:

  • Hồ gia đình mặc định dùng một mác cố định.
  • Hồ thương mại chỉ cần tăng thêm một cấp.
  • Hồ sâu hơn chỉ cần tăng cường độ bê tông.
  • Có phụ gia chống thấm thì có thể giảm cốt thép.
  • Thành dày thì không cần kiểm soát vết nứt.

Hai hồ có cùng thể tích vẫn có thể cần giải pháp hoàn toàn khác nhau nếu một hồ nằm trên nền đất yếu, còn hồ kia đặt trên sàn mái hoặc chịu nước ngầm cao.

Mác cao không tự làm bê tông kín nước

Tăng cường độ không khắc phục được Waterstop bị gập, thép bị cắt quanh Skimmer, mạch ngừng ngoài kế hoạch, lớp bảo vệ sai, nền lún không đều hoặc thiết bị chờ bị xô lệch.

Một cấp phối cường độ cao cũng không mặc định phù hợp hơn. Tùy thành phần, nó có thể yêu cầu kiểm soát chặt hơn về nhiệt, lượng nước, tính công tác, co ngót và bảo dưỡng. Vì vậy, quyết định cấp phối phải dựa trên toàn bộ yêu cầu thiết kế và biện pháp thi công, không chỉ một con số cường độ.

ACI 301-20 là một specification tham khảo cho thi công bê tông và chỉ được áp dụng cho dự án khi kiến trúc sư hoặc kỹ sư viện dẫn trong hồ sơ. Các yêu cầu cụ thể về vật liệu, nghiệm thu và thi công vẫn phải được xác định cho từng công trình.

Ngoài cường độ, bê tông hồ bơi cần kiểm soát những gì?

Khả năng điền đầy qua cốt thép

Bê tông phải đi qua khoảng hở giữa các thanh thép và lấp đầy các vùng khó như chân thành, góc thành–đáy, hai phía Waterstop, phía sau Skimmer, quanh hộp thu đáy và vùng có nhiều thanh neo hoặc nối chồng.

Nếu cốt liệu lớn hơn khả năng đi qua thực tế, đá có thể bị giữ lại trong khi vữa chảy xuống trước. Kết quả là bê tông mất đồng nhất, xuất hiện hốc rỗ hoặc không bao kín cốt thép.

Khả năng thi công tốt không có nghĩa hỗn hợp càng lỏng càng tốt. Hỗn hợp phải vừa đủ linh động để điền đầy, đồng thời duy trì độ ổn định và không bị phân tầng.

Kích thước cốt liệu phải phù hợp với khoảng hở

Cấp phối không thể được lựa chọn tách rời bản vẽ cốt thép và thiết bị chờ.

Trước khi duyệt cấp phối, cần kiểm tra khoảng hở nhỏ nhất tại:

  • Vùng nối chồng cốt thép.
  • Giao giữa đáy và thành.
  • Hai phía băng cản nước.
  • Sau thiết bị âm thành.
  • Quanh khung kính hoặc Acrylic.
  • Vùng có nhiều ống xuyên.
  • Các đoạn thay đổi chiều dày.

Nếu không còn đường đưa bê tông hoặc vị trí đặt vòi đầm, việc tăng độ sụt chỉ xử lý phần biểu hiện, không giải quyết xung đột hình học bên trong.

Độ ổn định của hỗn hợp

Bê tông cần hạn chế tách nước, phân tầng, mất vữa qua khe cốp pha và chênh lệch lớn giữa các xe.

Một hỗn hợp nhìn rất lỏng có thể dễ bơm và tạo bề mặt ngoài đẹp, nhưng phần phía sau thiết bị hoặc dưới chân thành vẫn có nguy cơ mất đồng nhất.

Độ sụt cần được xác định theo cấp phối, phương pháp bơm, chiều dài tuyến bơm, mật độ thép, thời gian vận chuyển và điều kiện thời tiết. Không có một giá trị độ sụt dùng chung cho mọi hồ.

ASTM C94/C94M-23 bao quát việc sản xuất và giao bê tông thương phẩm ở trạng thái tươi. Việc tiếp nhận tại công trường vẫn phải tuân theo cấp phối, tiêu chí thử và quy trình đã được dự án phê duyệt.

Không tự ý thêm nước tại công trường

Khi hỗn hợp khó bơm, việc cho thêm nước vào xe có thể làm thay đổi tỷ lệ nước/chất kết dính, độ ổn định, cường độ, co ngót và thời gian đông kết.

Nếu độ sụt không phù hợp, cần dừng tiếp nhận và xử lý theo quy trình của trạm trộn, kỹ sư vật liệu và tư vấn giám sát. Không nên điều chỉnh bằng kinh nghiệm của đội bơm.

Mỗi xe cần được đối chiếu mã cấp phối, thời gian xuất trạm, thời gian đến công trường, phụ gia, khối lượng và vị trí dự kiến đổ. Việc ghi nhận xe nào được đổ vào khu vực nào giúp truy xuất khi mẫu thử hoặc kết cấu có bất thường.

Kiểm soát co ngót và độ bền lâu

Co ngót chịu ảnh hưởng đồng thời bởi lượng nước, thành phần chất kết dính, kích thước cấu kiện, nhiệt độ, gió, mức độ ràng buộc, trình tự đổ và bảo dưỡng.

Không có một phụ gia duy nhất loại bỏ được mọi nguy cơ nứt. Phụ gia chỉ là một thành phần của cấp phối và phải được đánh giá cùng toàn bộ hệ thống.

Về độ bền lâu, cần phân biệt hóa chất khử trùng trong nước với cơ chế ăn mòn do ion chloride. Nguy cơ ăn mòn cốt thép liên quan đến khả năng chloride, độ ẩm và oxy xâm nhập tới thép, cũng như sự suy giảm môi trường kiềm do carbonat hóa. Vết nứt và lớp bảo vệ không đạt làm quá trình xâm nhập diễn ra nhanh hơn.

Đối với hồ điện phân muối, hồ gần biển hoặc kết cấu tiếp xúc với đất và nước ngầm có tác nhân xâm thực, yêu cầu độ bền phải được kỹ sư xác định riêng trong hồ sơ thiết kế.

Phụ gia chống thấm có thay thế cấu tạo kín nước không?

Phụ gia có thể hỗ trợ giảm lượng nước, duy trì tính công tác, điều chỉnh thời gian đông kết hoặc cải thiện độ đặc chắc của bê tông. Tuy nhiên, nó không thay thế các thành phần chịu lực và cấu tạo khe.

Phụ gia không thay thế cốt thép

Phụ gia không chịu lực kéo và không phân bố biến dạng như cốt thép. Không được dùng lý do có phụ gia để:

  • Bỏ một lớp thép.
  • Giảm chiều dài neo.
  • Cắt thép quanh thiết bị.
  • Bỏ thép viền quanh lỗ mở.
  • Thay đổi khoảng cách thép đã thiết kế.

Phụ gia không thay thế Waterstop

Khi kết cấu có mạch ngừng, bê tông của hai đợt đổ không tự trở thành một khối liên tục chỉ vì cấp phối có phụ gia.

Mạch ngừng vẫn phải được bố trí theo thiết kế, chuẩn bị bề mặt, lắp cấu tạo cản nước phù hợp và đầm bê tông bao kín. Waterstop bị gập, nổi hoặc lệch vẫn có thể tạo đường thấm.

Phụ gia không tự thay thế chống thấm bề mặt

Một số dự án sử dụng kết hợp bê tông có yêu cầu hạn chế thấm, cấu tạo khe, xử lý cổ ống, hệ chống thấm bề mặt và lớp hoàn thiện.

Không được tự ý bỏ một lớp trong hệ thống chỉ vì đã bổ sung phụ gia vào bê tông.

Mọi thay đổi phụ gia tại công trường phải tuân theo cấp phối được phê duyệt và hướng dẫn của đơn vị cung cấp bê tông. Không đổ thêm phụ gia trực tiếp vào xe khi chưa có quy trình kiểm soát.

Vai trò của cốt thép trong kết cấu hồ bơi

Chịu kéo và phân bố vết nứt

Bê tông chịu nén tốt nhưng hạn chế khi chịu kéo. Cốt thép tiếp nhận lực kéo do áp lực nước, áp lực đất, uốn của thành và đáy, co ngót, nhiệt độ, lún nền và chuyển vị công trình.

Cốt thép không bảo đảm bê tông tuyệt đối không nứt. Một vai trò quan trọng của thép là phân bố biến dạng thành nhiều vết nhỏ hơn, thay vì để biến dạng tập trung thành một vết lớn.

Vì vậy, khả năng kiểm soát nứt không chỉ phụ thuộc tổng khối lượng thép mà còn phụ thuộc đường kính, khoảng cách, hướng bố trí, vị trí và khả năng neo.

Giữ đúng số lớp và vị trí thiết kế

Tùy sơ đồ chịu lực, đáy và thành có thể cần cốt thép tại cả hai mặt. Không được tự ý bỏ một lớp thép vì hồ nhỏ, thành dày, bê tông có mác cao hoặc một phía thành được đất đỡ.

Thép phải được giữ đúng vị trí trong suốt quá trình đổ. Nếu thép bị đẩy quá gần cốp pha, lớp bảo vệ không đủ. Nếu bị đẩy quá sâu, chiều cao làm việc của tiết diện và khả năng kiểm soát nứt bề mặt thay đổi.

Neo và nối cốt thép

Các vùng cần kiểm tra kỹ gồm góc thành–đáy, đầu thành, mương tràn, bậc, góc lõm, khung kính và đoạn thay đổi cao độ.

Không được làm ngắn neo để tránh ống hoặc cốp pha. Vị trí nối, chiều dài nối, tỷ lệ thanh nối tại cùng một tiết diện và khoảng cách tới góc hoặc mạch ngừng phải theo hồ sơ thiết kế.

Gom toàn bộ mối nối vào một đường có thể tạo vùng cốt thép quá dày, làm bê tông khó đi qua và tăng nguy cơ rỗ.

Gia cường quanh lỗ mở

Skimmer, hộp thu đáy, khung đèn, lỗ ống lớn, ô kính và hốc massage thường cần cấu tạo tăng cường cục bộ.

Khi thiết bị xung đột với thép, trình tự xử lý đúng là:

  1. Dừng lắp đặt tại vị trí xung đột.
  2. Đối chiếu bản vẽ triển khai.
  3. Báo kỹ sư kết cấu.
  4. Điều chỉnh vị trí thiết bị hoặc thép theo chi tiết được duyệt.
  5. Bổ sung thép viền hoặc gia cường khi cần.
  6. Nghiệm thu lại trước khi đóng cốp pha.

Không cắt một thanh thép rồi trám bê tông với giả định hồ nhỏ nên không ảnh hưởng.

Lớp bê tông bảo vệ cốt thép

Lớp bảo vệ là khoảng bê tông từ bề mặt kết cấu đến cốt thép gần nhất. Nó giúp duy trì vị trí làm việc của thép, bảo đảm bám dính và hạn chế tác nhân ăn mòn tiếp cận cốt thép.

Lớp bảo vệ quá mỏng làm thép gần bề mặt, tăng nguy cơ ăn mòn, nứt và bong bê tông. Lớp quá dày do thép bị dịch khỏi vị trí thiết kế cũng có thể làm thay đổi chiều cao làm việc của tiết diện và tăng độ mở vết nứt tại bề mặt.

Không thể kiểm soát lớp bảo vệ bằng quan sát sau khi đã đóng cốp pha. Cần sử dụng con kê và ghế thép phù hợp, đủ bền và ổn định.

Không nên dùng gạch vỡ, đá rời, gỗ, vật liệu dễ hút nước hoặc để thanh thép tỳ trực tiếp vào cốp pha.

Phối hợp thiết bị âm thành với kết cấu

Chốt thiết bị trước khi gia công và khóa cốt thép

Hồ sơ phải có model hoặc kích thước thực của thiết bị, kích thước thân, kích thước mặt hoàn thiện, đường kính kết nối, hướng ống, cao độ và không gian nối phía sau.

Một ký hiệu tâm thiết bị trên mặt bằng chưa đủ để triển khai thép và cốp pha.

Cao độ thiết bị phải được tính theo mặt hoàn thiện, gồm lớp sửa nền, chống thấm, keo dán, Mosaic hoặc đá và ron. Nếu chỉ lấy theo bê tông thô, Skimmer hoặc đầu trả có thể sai cao độ sau khi hoàn thiện.

Cố định thiết bị độc lập

Nếu Skimmer hoặc hộp thu đáy chỉ được buộc vào một thanh thép, áp lực bê tông và quá trình đầm có thể làm thiết bị nghiêng, nổi hoặc xoay.

Cần có khung hoặc biện pháp cố định đủ cứng. Việc cố định phải đồng thời bảo đảm thiết bị không gây tải làm dịch chuyển lồng thép.

Chừa đường cho bê tông và vòi đầm

Một thiết bị đặt đúng tâm nhưng phía sau bị rỗ vẫn chưa đạt.

Xung quanh thiết bị cần đủ khoảng hở giữa thép và thân thiết bị, đường đưa bê tông, vị trí đặt vòi đầm và lớp bê tông bao quanh theo thiết kế.

Việc phối hợp này phải hoàn thành trước khi phát lệnh đổ, không chờ đến khi xe bê tông đã tới công trường mới xử lý xung đột.

Cốp pha ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bê tông

Cốp pha phải kín để hạn chế mất vữa. Khe hở tại chân thành có thể làm vữa chảy ra ngoài, để lại cốt liệu lộ, bề mặt xốp hoặc rỗ sâu.

Hệ cốp pha cũng phải đủ khả năng chịu áp lực bê tông tươi. Rủi ro tăng khi thành cao, hỗn hợp có tính công tác lớn, đổ bằng bơm hoặc tốc độ đổ nhanh.

Cốp pha yếu có thể phình, lệch, làm thay đổi chiều dày thành, kéo lệch Skimmer hoặc làm sai cao độ mép tràn.

Dung sai hình học phải được quy định trong hồ sơ dự án. ACI SPEC-117-10, được tái phê duyệt năm 2015, là một tài liệu tham khảo về dung sai bê tông nhưng không thay thế các yêu cầu riêng của hồ sơ thiết kế.

Trước khi đóng kín, phải loại bỏ dây thép thừa, mẩu gỗ, đất, nước bẩn và vữa khô tại chân thành. Chất tháo khuôn không được làm bẩn cốt thép, Waterstop, mạch ngừng hoặc bề mặt cần liên kết với lớp chống thấm.

Điều kiện trước khi phát lệnh đổ bê tông

Không nên gọi xe bê tông khi mới chỉ nghiệm thu đường kính và khoảng cách thép.

Nhóm kiểm traNội dung phải khóa
Hồ sơBản vẽ kết cấu, bản vẽ thiết bị chờ, cấp phối, mạch ngừng, biện pháp đổ và bảo dưỡng
Cốt thépChủng loại, số lượng, khoảng cách, neo, nối, lớp bảo vệ, độ ổn định và thép quanh lỗ mở
Thiết bị chờModel, cao độ, hướng, đường kính, biện pháp cố định và đầu ống đã bịt kín
WaterstopĐúng vị trí, liên tục, không gập, mối nối hoàn chỉnh và có đường đầm hai phía
Cốp phaĐúng hình học, kín, đủ chống đỡ, sạch và có vị trí quan sát
Bê tôngMã cấp phối, phương thức bơm, phương pháp kiểm tra và khả năng truy xuất từng xe
Thiết bị thi côngBơm, vòi đầm chính và dự phòng, điện, chiếu sáng và vật tư che mưa
Nhân lựcChỉ huy đổ, giám sát kết cấu, người theo dõi cốp pha và người theo dõi thiết bị chờ
Bảo dưỡngVật tư, nguồn nước, biện pháp che phủ và thời điểm bắt đầu

Nếu một vùng chưa có đường đưa bê tông, không có vị trí đặt vòi đầm, cốt thép vẫn xung đột thiết bị hoặc chi tiết chờ còn có thể dịch chuyển thì chưa nên ký lệnh đổ.

Kiểm soát trong lúc đổ

Bê tông cần được đổ theo trình tự đã duyệt, tránh dồn quá nhiều vào một điểm hoặc tạo tải lệch lên cốp pha.

Các khu vực phải có người theo dõi trực tiếp gồm:

  • Chân thành.
  • Góc thành–đáy.
  • Hai phía Waterstop.
  • Sau Skimmer.
  • Quanh hộp thu đáy.
  • Vùng nối thép.
  • Khung kính hoặc Acrylic.
  • Đoạn có nhiều ống xuyên.

Trong quá trình đầm, phải quan sát cốp pha, lồng thép, thiết bị chờ và cao độ mép tràn. Khi phát hiện dịch chuyển, cần dừng tại khu vực để điều chỉnh thay vì tiếp tục đổ rồi sửa sau.

Nếu quá trình bị gián đoạn do thiếu xe, hỏng bơm, mất điện, mưa hoặc cốp pha mất ổn định, vị trí và thời gian dừng phải được ghi nhận để kỹ sư đánh giá biện pháp xử lý mạch.

Phần tổ chức đợt đổ, chiều cao lớp, thời gian gián đoạn và kỹ thuật đầm cần được triển khai trong biện pháp thi công riêng, không dùng một quy trình cố định cho mọi hồ.

Lấy mẫu đạt chưa đủ để nghiệm thu kết cấu

Mẫu thử có thể đạt trong khi một vùng thành vẫn bị rỗ do đầm thiếu, mất vữa, phân tầng hoặc thiết bị chờ cản đường bê tông.

Nghiệm thu phải kết hợp:

  • Phiếu giao và mã cấp phối.
  • Kết quả kiểm tra bê tông tươi.
  • Kết quả mẫu thử.
  • Nhật ký đổ.
  • Vị trí từng xe đã sử dụng.
  • Kiểm tra hình học.
  • Kiểm tra bề mặt và khuyết tật sau tháo cốp pha.

Khi phát hiện vùng rỗ, thép lộ hoặc đường mạch lạnh, không nên trát kín ngay. Cần ghi nhận vị trí, kích thước, chiều sâu và quan hệ với cốt thép, Waterstop hoặc thiết bị chờ trước khi quyết định phương án sửa.

Bảo dưỡng là một phần của chất lượng kết cấu

Bảo dưỡng giúp hạn chế mất ẩm sớm và duy trì điều kiện thuận lợi để bê tông phát triển các tính chất yêu cầu.

ACI PRC-308-16 trình bày các phương pháp, vật liệu và cách theo dõi bảo dưỡng bên ngoài; phương án thực tế phải được lựa chọn theo loại cấu kiện, môi trường và yêu cầu dự án.

Không nên chờ bề mặt khô trắng hoặc xuất hiện nứt nhỏ mới bắt đầu bảo dưỡng.

Bản đáy, mặt trên thành, mép tràn, góc và vùng vừa tháo cốp pha có điều kiện mất nước khác nhau. Cần chuẩn bị biện pháp che nắng, chắn gió và bảo vệ khi có mưa trước ngày đổ.

Thời điểm tháo cốp pha phải căn cứ loại cấu kiện, cường độ, hệ chống đỡ, tải thi công và biện pháp bảo dưỡng tiếp theo; không nên tháo chỉ để chạy tiến độ.

Kiểm tra sau tháo cốp pha

Trước khi trát sửa hoặc thi công chống thấm, cần lập biên bản hiện trạng.

Kiểm tra hình học

Đối chiếu kích thước lòng hồ, chiều dày, cao độ đáy, độ thẳng thành, cao độ mép tràn, vị trí thiết bị âm thành và kích thước ô kính.

Kiểm tra bề mặt

Ghi nhận rỗ mặt, rỗ sâu, hốc, cốt liệu lộ, mất vữa, thép lộ, vết dầu, vùng bê tông bất thường và đường mạch lạnh.

Kiểm tra vết nứt

Vết nứt cần được ghi nhận theo vị trí, hướng, chiều dài, thời điểm xuất hiện, quan hệ với mạch ngừng và thiết bị chờ, dấu hiệu chuyển động và khả năng truyền nước.

Không nên sửa trước khi xác định nguyên nhân. Việc lựa chọn phương án sửa cần xét nguyên nhân, mức chuyển động, kích thước, hướng vết nứt và bằng chứng nước đi qua.

Tăng mác bê tông không giải quyết được những gì?

Vấn đềTăng mác có tự khắc phục?Hướng kiểm soát
Nền lún không đềuKhôngKhảo sát và thiết kế nền móng
Thiếu hoặc sai vị trí cốt thépKhôngTính toán và nghiệm thu cốt thép
Waterstop bị gập hoặc lệchKhôngCố định và theo dõi trong lúc đổ
Rỗ quanh cổ ốngKhôngPhối hợp cấp phối, khoảng hở, đổ và đầm
Mạch ngừng ngoài kế hoạchKhôngTổ chức đợt đổ và xử lý mạch
Lớp bảo vệ saiKhôngCon kê, ghế thép và kiểm tra vị trí
Co ngót do cấp phối hoặc bảo dưỡngKhôngKiểm soát lượng nước, nhiệt và bảo dưỡng
Thiết bị chờ bị xôKhôngKhung cố định độc lập
Cốt liệu kẹt giữa thépKhôngPhối hợp kích thước cốt liệu với khoảng hở
Nứt do chuyển vị kết cấuKhôngKiểm tra tải trọng, độ cứng và biến dạng

Những lỗi công trường cần tránh

Chọn mác theo kinh nghiệm công trình trước. Hai hồ có thể khác hoàn toàn về nền đất, nước ngầm, mật độ thép và điều kiện bơm.

Cho rằng mác cao thì không cần chống thấm. Cường độ cao không loại bỏ lỗ xuyên, mạch ngừng và vết nứt.

Thêm nước vào xe để dễ bơm. Hỗn hợp dễ chảy hơn nhưng cấp phối không còn được kiểm soát như ban đầu.

Bố trí thép quá dày mà không kiểm tra đường bê tông đi qua. Bề mặt ngoài có thể đẹp trong khi phía sau thiết bị vẫn có hốc.

Cắt thép để lắp Skimmer. Đường truyền lực bị gián đoạn đúng tại vùng tiết diện đã bị suy yếu bởi lỗ mở.

Chỉ buộc thiết bị chờ vào lồng thép. Áp lực bê tông có thể làm thiết bị nghiêng, nổi hoặc đổi cao độ.

Chỉ kiểm tra Waterstop trước ngày đổ. Waterstop vẫn có thể nổi, gập hoặc lệch trong lúc bê tông đang được đưa vào.

Không có vòi đầm dự phòng. Sự cố thiết bị có thể làm gián đoạn toàn bộ đợt đổ.

Trát kín ngay sau tháo cốp pha. Khuyết tật bị che trước khi được phân loại và đánh giá.

Câu hỏi thường gặp

Hồ bơi nên dùng bê tông mác bao nhiêu?

Không có một mác dùng chung. Cường độ phải được xác định theo tải trọng, sơ đồ kết cấu, nền đất, nước ngầm, môi trường, độ bền và tiêu chuẩn của dự án.

Bê tông mác cao có chống thấm tốt hơn không?

Không thể kết luận chỉ từ mác. Khả năng giữ nước còn phụ thuộc kiểm soát nứt, cốt thép, Waterstop, mạch ngừng, đầm, bảo dưỡng và thiết bị xuyên kết cấu.

Hồ bơi có bắt buộc dùng phụ gia chống thấm không?

Tùy giải pháp thiết kế. Phụ gia có thể hỗ trợ cấp phối nhưng không thay thế cốt thép, cấu tạo khe, Waterstop hoặc lớp chống thấm bề mặt khi hồ sơ yêu cầu.

Có được thêm nước vào xe bê tông để dễ bơm không?

Không được tự ý thêm. Mọi điều chỉnh phải theo quy trình được phê duyệt với sự tham gia của trạm trộn, kỹ sư vật liệu và giám sát.

Thành hồ có bắt buộc dùng thép hai mặt không?

Phụ thuộc sơ đồ chịu lực và tính toán. Không được tự ý bỏ một lớp thép dựa trên kinh nghiệm công trường.

Có thể cắt cốt thép để lắp Skimmer không?

Không được tự ý cắt. Phải báo kỹ sư kết cấu, điều chỉnh chi tiết và bổ sung gia cường khi cần.

Mẫu nén đạt nhưng thành hồ bị rỗ có được nghiệm thu không?

Không thể nghiệm thu chỉ dựa vào mẫu nén. Vùng rỗ phải được đánh giá về chiều sâu, diện tích, vị trí, mức mất tiết diện và ảnh hưởng đến độ bền, khả năng chịu lực và độ kín nước.

Độ sụt bê tông hồ bơi bao nhiêu là phù hợp?

Phải căn cứ cấp phối, phương thức bơm, mật độ thép, khoảng hở, thời tiết và biện pháp thi công. Không có một giá trị chung cho mọi hồ.

Đổ đáy và thành cùng một lần có tốt hơn không?

Không mặc định. Phương án phụ thuộc thiết kế, cốp pha, mật độ thép, thiết bị chờ và khả năng tổ chức thi công. Khi chia đợt, mạch ngừng và cấu tạo cản nước phải được thiết kế, thi công và nghiệm thu đúng.

Chỉ phát lệnh đổ khi kết cấu và thiết bị chờ đã được khóa

Trước khi xe bê tông đầu tiên vào công trường, bản vẽ kết cấu, cốt thép, mạch ngừng, Waterstop, cấp phối, thiết bị âm thành và biện pháp đổ phải được đối chiếu trên cùng một hồ sơ.

Kỹ sư kết cấu, đội M&E hồ bơi và giám sát cần cùng kiểm tra các vùng có nguy cơ cao: chân thành, góc thành–đáy, hai phía Waterstop, sau Skimmer, quanh hộp thu đáy, khung kính và khu vực có nhiều ống xuyên.

Nếu chưa có đường đưa bê tông hoặc vòi đầm, thép vẫn xung đột thiết bị hay chi tiết chờ chưa được cố định chắc chắn, chưa nên ký lệnh đổ.

Sau khi bê tông đã đông cứng, một lỗi được mô tả đơn giản là “không đủ khoảng thi công” có thể trở thành rỗ sâu, thép lộ, sai cao độ hoặc đường thấm phải đục sửa.

Nguồn tham khảo kỹ thuật

  • ACI CODE-350-20 và ACI SPEC-350.1-22: kết cấu bê tông môi trường và thử độ kín.
  • ACI SPEC-301-20: specification tham khảo cho thi công bê tông.
  • ACI SPEC-117-10, tái phê duyệt 2015: dung sai thi công bê tông.
  • ACI PRC-308-16: hướng dẫn bảo dưỡng bê tông bên ngoài.
  • ACI PRC-222-19: bảo vệ cốt thép trước ăn mòn, chloride và carbonat hóa.
  • ASTM C94/C94M-23: bê tông thương phẩm.